Ngựa Mông Cổ

Ngựa Mông Cổ xuất xứ từ loài Ngựa hoang Przewalski hay còn gọi là ngựa hoang Mông Cổ. Ngựa Przewalski được xếp vào nhóm có nguy cơ tuyệt chủng trong thiên nhiên. Từ năm 1960, loài ngựa quý hiếm này đã được liệt vào nhóm động vật có nguy cơ tuyệt chủng cao của Sách Đỏ. Từng được xem là tuyệt chủng, ngựa Przewalski đã được tái thả vào tự nhiên Vườn quốc gia Khustain Nuruu, Khu bảo tồn thiên nhiên Takhin Tal và Khu bảo tồn thiên nhiên Khomiin Tal. Đặc biệt, ngựa Przewalski có 66 nhiễm sắc thể thay vì 64 như những loài ngựa khác.

Ngựa hoang Mông Cổ tại Công viên Quốc gia Khustain Nuruu (Ảnh: wikipedia)

Ngựa Mông Cổ là giống ngựa nổi tiếng thế giới với sức khỏe dẻo dai và khả năng thích nghi tuyệt vời với điều kiện khắc nghiệt. Ngựa Mông Cổ tuy không to, mỗi con trung bình nặng khoảng 250kg, nhưng có thể chạy nhanh đến 30 – 45 km/h và có thể chạy trong 10 giờ liền không nghỉ nên từ xưa ngựa Mông Cổ đã được mệnh danh là thiên lý mã. Về khả năng thích nghi: ngựa Mông Cổ có thể sống ngoài trời quanh năm (với điều kiện nhiệt độ 25 oC đến 30 oC vào mùa hè và -25 oC đến -45oC vào mùa đông), ngoài loài ngựa Mông Cổ ít có loài ngựa nào có thể chịu đựng được điều kiện thời tiết khắc nghiệt như vậy.

Ngựa Mông Cổ

Có được sự dẻo dai và khả năng chống chọi cao với điều kiện khí hậu khắc nghiệt như vậy một phần là do sự di truyền về nòi giống, một phần là nhờ nguồn dinh dưỡng phong phú với những đồng cỏ tự nhiên và những loại thảo dược quí hiếm chỉ có ở thảo nguyên Mông Cổ. Do vậy trong xương cốt ngựa Mông Cổ có chứa những dưỡng chất đặt biệt và rất ưu việt.

Theo thống kê thì hiện nay số lượng ngựa Mông Cổ được nuôi thả tự nhiên trên các đồng cỏ khoảng 3 triệu con đông hơn dân số của đất nước Mông Cổ.

Thịt ngựa thường được người Mông Cổ chọn dùng vào mùa đông vì ít cholesterol và họ tin rằng thịt ngựa giúp cho cơ thể được ấm hơn.

Người Mông Cổ với cuộc đời du mục nơi thảo nguyên bao la, rộng lớn, nên chỉ có thể trông cậy vào người bạn đường là ngựa. Ngựa là thứ qúy nhất với người Mông Cổ. Ngựa chở người, thồ hàng, ngựa chăn cừu, đi săn, trước đây, nó chinh chiến cực dẻo dai. Môn đua ngựa cũng được dân Mông Cổ ưa chuộng nhất, rồi mới đến bắn cung, đấu vật. Với người Mông Cổ, ngựa tượng trưng cho sức mạnh, sự trung thành, sức sống mãnh liệt và may mắn. Ở nông thôn, trẻ em 3 tuổi đã được cha, anh dạy cưỡi ngựa. Đến 10 tuổi, chúng đã phi ngựa như bay.

Quanh phố phường Ulaanbaatar, bắt gặp nhiều tượng người cưỡi ngựa. Có rất nhiều tư thế khác nhau. Ngựa tung vó kiêu hùng phi nước đại, đầu ngẩng cao, hai vó trước như bay lên. Ngựa cong người, chúc đầu khi bị ghìm cương. Ngựa thung thung đi bước một. Tượng người cưỡi ngựa phi nước đại, tung vó lao về phía trước vẫn nhiều hơn cả, gợi nhớ hình ảnh người hùng trên lưng ngựa chiến, chinh phục khát vọng bá chủ thế giới, tung hoành khắp 2 châu lục Á – Âu một thời. Bức tượng người cưỡi ngựa lớn nhất Mông Cổ đến thời điểm này là tượng Thành Cát Tư Hãn, được hoàn thành vào năm 2008, tại khu tượng đài mang tên Thành Cát Tư Hãn, trên cùng đặt bức tượng Thành Cát Tư Hãn cưỡi trên lưng ngựa chiến bằng thép sáng loáng, cao 40m, nặng 250 tấn.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *